Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013

Du nhập động vật ngoại lai để bình phục đa dạng sinh học.

Nhiều người vẫn tin rằng bảo tàng Thiên nhiên tức thị để cho hệ động, thực vật bản địa tồn tại biệt lập, không có sự cạnh tranh của các loài ngoại lai hoặc khôi phục nguyên trạng môi trường sống của chúng

Du nhập động vật ngoại lai để phục hồi đa dạng sinh học

Mãi đến mùa hè năm 2011, người ta mới đưa nước về chăn thả tại ngôi làng Töpchin theo một dự án phối hợp cùng Quỹ bảo tồn Thiên nhiên Brandenburg tiến hành.

Chỉ trong thời kì ngắn, rất nhiều dự án tương tự như Töpchin đã xuất hiện trên toàn nước Đức. Ngôi làng Töpchin thuộc bang Brandenburg cách Berlin khoảng 40km là một trong những nơi trước tiên thực hiện thử nghiệm và loài ngoại lai được nhập cảng là hà mã châu Á.

10. Ông Josef Reichholf, nhà động vật học và sinh học tiến hóa của Đại học Kỹ thuật Munich, người từ lâu đã ủng hộ việc đưa những loài ăn cỏ lớn để tăng cường đa dạng sinh vật học ở các cảnh quan có con người sinh sống, cho biết: “Chăn thả ngựa konik và các động vật ăn cỏ lớn khác là phương pháp tốt nhất để bảo tàng tự nhiên ở Đức”.

Những dự án bảo tàng như Töpchin lúc đầu cũng bị người dân địa phương hiềm nghi như một hình thức chiếm đất hợp pháp, song dần dần, họ đã nhận ra tính hiệu quả của dự án và đồng ý cho hà mã đến gặm cỏ trên đất của mình.

Khác với khu vực nhiệt đới, đa số đa dạng sinh học ở châu Âu không nằm trong các cánh rừng, mà ở khu vực đồng cỏ, đầm lầy và các vùng đất hoang. Những con vật màu đen sừng được lai tạo giống theo đơn đặt hàng riêng tại Pháp có thể gặm cỏ ở những môi trường ẩm ướt và nghèo dinh dưỡng mà loài bò ở Đức đã chán chường, bao gồm một số vùng đầm lầy bị đe dọa và khu vực đầm lầy muối còn sót lại.

000 năm trước, hà mã vẫn là loài bản địa ở châu Âu nhưng vì nạn săn bắt nở rộ đã đẩy khuôn khổ sống của chúng ra xa tới phía đông nam của đất liền. Những con hà mã này đang được kỳ vọng sẽ giúp hồi phục đa dạng sinh học ở ngôi làng Töpchin   Ông Holger Rössling thuộc Quỹ bảo tàng tự nhiên Brandenburg cho biết: “Chúng ta cần trâu để loại bỏ sinh khối, nếu không những khu vực nói trên sẽ mất đi các loài cây đặc hữu và chỉ còn tồn tại các loài phổ biến… Khác với bò, loài trâu chịu đựng giỏi và thích nghi tốt.

Thảm thực vật dày đặc cũng tạo ra một vi khí hậu ẩm thấp mát mẻ gây bất lợi cho nhiều loài sâu bọ và loài chim vốn hạp với các sinh cảnh thoáng đãng. Nếu sáng kiến “Tái tạo tự nhiên châu Âu” do các nhóm bảo tàng như Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) dẫn đầu đặt mục tiêu đến năm 2020 “tái tạo tự nhiên” được 1 triệu héc-ta đất thuộc 10 khu bảo tồn từ Tây Ban Nha tới lưu vực sông Danube và dãy núi Carpathian thì ngược lại, các dự án ở Đức lại nhằm bình phục đa dạng sinh vật học cho những cảnh quan mà con người đã tác động.

Cuối năm ngoái, một đôi hộ gia đình ở Töpchin còn sinh sản được thịt và xúc xích trâu đem bán.

Thỉnh thoảng chúng ta phải sáng tạo và linh hoạt hơn trong cách điều chỉnh cảnh quan để duy trì đa dạng sinh học.

Cách Berlin vài cây số về phía tây, Quỹ Heinz Sielmann đã đưa 19 con ngựa Przhevalsky – loài bản địa của Mông Cổ – cùng chung sống với 41 con bò rừng bizon châu Âu ở Döberitzer, nơi trước đây từng là khu huấn luyện quân sự.

Dự án tiếp theo cũng sử dụng động vật ăn cỏ lớn nhằm khôi phục cảnh quan tự nhiên tại một nhà máy xử lý nước thải cũ gần thủ đô Berlin. Cốt lõi của việc tái du nhập chính là tập kết theo dõi tác động của những loài ăn cỏ lớn tới cảnh quan. Sau nhiều thế kỷ được con người sử dụng, cảnh quan đó khi trở về dạng thiên nhiên thường sẽ có ít loài hơn, thành thử lý do đằng sau rất nhiều kế hoạch bảo tàng ở Đức can dự đến việc tái du nhập các động vật ăn cỏ ngoại lai.

Với lợi thế về sức vóc, chúng được kỳ vọng sẽ dễ thích nghi với địa hình gồ ghề và ẩm thấp hơn so với những chú bò thường nhật ở Đức. Điều này khiến các loài không đặc hữu phát triển và từ đó thu hẹp và rốt cục là triệt tiêu các loài quý hiếm vốn thích ứng với môi trường nghèo dinh dưỡng.

Ông giảng giải rằng phong cảnh nơi đây chịu ảnh hưởng của một lượng lớn phân bón từ chứ khi các phương tiện liên lạc và các nhà máy thải ô-xít ni-tơ. Nhưng trong một thế giới bị chi phối bởi con người và môi trường đổi thay mau chóng như hiện nay thì mọi thứ đã trở thành phức tạp hơn, chẳng thể lúc nào cũng duy trì một khu vực thuần túy các loài bản địa. Hay ở quận Barnim thuộc bang Brandenburg, người ta phối hợp chăn thả ngựa konik – loài ngựa được cho là có cỗi nguồn từ ngựa hoang châu Âu cổ đại – và các loài gia súc của Anh.

Đích của dự án là để những con ngựa hoang và bò rừng bizon châu Âu dọn bớt cỏ ở khu vực này, tạo điều kiện cho các loài ưa nhiệt phát triển.

Ngoài lợi thế về bộ móng guốc khỏe, chúng còn có thể gặm hầu như tuốt các loài thực vật”. Dự án Töpchin là tỉ dụ về một khuynh hướng bảo tồn đang phát triển ở châu Âu, sử dụng các loài động vật ăn cỏ lớn, ngoại lai để làm tăng sự đa dạng của hệ động, thực vật bản địa.

Họ tin rằng cư dân thị thành Berlin sẽ thích thứ hương vị từ thiên nhiên này… Theo  Diễn đàn Đầu tư. Do đó việc đưa các loài ăn cỏ lớn tới đây là nhằm loại bỏ bớt các loài cây phát triển quá mức, cho phép các loài bản địa hiếm hơn phát triển mạnh.

Điều đang xảy ra ở Đức hưởng ứng một xu hướng được gọi là “tái tạo tự nhiên” (rewild), một phong trào toàn cầu nhằm mở mang các khu vực hoang dại xung yếu, kết nối chúng phê chuẩn các nhà tiêu cho phép con người và động vật cùng tồn tại, song song bảo vệ và tái nhập cảng các loài động vật ăn thịt hàng đầu.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét