” – Oeuvres complète (Paris, 1876), I, 248
Thành thử, nếu lấy tỉ dụ chỉ trong khía cạnh quyền lực, hầu hết mọi xã hội lên án việc giết chóc như là một công cụ để đạt được quyền lực trong xã hội, nhưng mọi từng lớp lại khuyến khích việc diệt kẻ thù trong cuộc chiến giành quyền lực được gọi là chiến tranh. Đặc biệt, khát khao chiếm ưu thế vượt trội là nguyên tố cấu thành của mọi sự kết liên giữa con người, từ gia đình thông qua những mối kết liên thân hữu anh em hoặc quan hệ nghề, và từ những tổ chức chính trị địa phương cho tới cấp quốc gia.
Tuy nhiên, không kể đến những điều kiện tầng lớp nhất thiết, sự phản bác quan yếu nhất đối với quan điểm cho rằng cuộc chiến quyền lực trong chính trị quốc tế chỉ là một sự cố lịch sử lại phát xuất từ bản tính của nền chính trị trong nước.
[11] Sẽ là vô ích và thậm chí là tự phá hủy mình khi giải thoát dân tộc nào đó trên trái đất khỏi sự ham mê quyền lực trong khi vẫn để thèm muốn đó đấu tồn tại với những dân tộc khác. Các nhóm xã hội, nhóm thân hữu, các khoa bảng và các tổ chức kinh doanh đều là bối cảnh của sự đua ganh quyền lực liên tục giữa các nhóm vốn hoặc ráng duy trì quyền lực hiện có hoặc thèm khát chiếm đoạt quyền lực lớn hơn.
[7] Trích trong A,C,F. Trong thế kỉ XIX, những người theo chủ nghĩa tự do ở mọi nơi san sẻ niềm tin rằng chính trị quyền lực và chiến tranh là tàn tích của một hệ thống thống trị lỗi thời và với thắng lợi của chế độ dân chủ và các chính phủ dựa trên hiến pháp đối với chính thể toàn trị và độc tài, sự hòa hợp quốc tế và nền hòa bình vĩnh cửu sẽ đánh bại chính trị quyền lực và chiến tranh.
Nếu xét đến sự tồn tại rộng khắp của tranh giành quyền lực trong tuốt luốt các mối quan hệ xã hội và mọi các cấp độ tổ chức xã hội, có ngạc nhiên không khi chính trị quốc tế thế tất chính là chính trị quyền lực? Và chẳng phải đáng kinh ngạc hơn nếu xem sự tranh giành quyền lực chỉ là ngẫu nhiên và là một thuộc tính không vững bền của chính trị quốc tế trong khi nó lại là một yếu tố thường xuyên và cần thiết của tuốt tuột mọi nhánh hoạt động của chính trị trong nước? Kì cuối: nguồn cội làm suy giảm quyền lực Biên dịch: Võ Hoàng Phương Nhung ; Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp Bài được đăng lại từ Nghiencuuquocte.
Norton and Company, Inc, 1938). Trong khi sự thật này nhìn chung được nhận trong thực tế ngoại giao quốc tế, thì nó lại thường bị chối bỏ trong các tuyên bố của giới học giả, các nhà tuyên truyền và kể cả các chính trị gia. Thí dụ, xem Warder Allee, Animal Life and Social Growth (Baltimore: The Williams and Wilkins Company, 1932) và The Social Life of Animals (New York: W.
Đối với Mác và những người ủng hộ ông, chủ nghĩa tư bản chính là nguyên nhân của chiến tranh và sự chia rẽ quốc tế. 154. Do đó, Jeremy Bentham tin rằng sự giành giật thực dân địa chính là căn nguyên cho mọi xung đột quốc tế. Không thể phủ nhận rằng Trong suốt lịch sử, bất chấp những điều kiện về chính trị, kinh tế và xã hội, các nhà nước đã đụng đầu nhau trong cuộc chiến về quyền lực.
Cuộc đua tranh giữa các công ty cũng như tranh chấp giữa người lao động và nhà tuyển dụng thường xuyên diễn ra không chỉ vì, và đôi khi không phải phải chính yếu bởi, các lợi.
“Hãy giải phóng các thực dân địa của các ngài đi!” là lời khuyên của ông giành cho các chính phủ, và các cuộc chiến tranh cũng như xung đột quốc tế kiên cố sẽ biến mất. Net --------------------------------- chú giải: [4] Emancipate Your Colonies (London: Robert Heward,1830) [5]“thương mại tự do! Đó là gì? vì sao lại phá dỡ nhừng hàng rào ngăn cách giữa các quốc gia: những hàng rào đó, nép mình đằng sau chúng là những xúc cảm của sự tự hào, báo thù, long căm hờn và cả sự ghen tỵ, những thứ mà sẽ đôi khi bùng nổ ra ngoài ranh giới của họ và nhần chìm vớ các quốc gia trong biển máu.
Thèm khát được sống, duy trì nòi, và áp đảo người khác là lẽ thường đối với mọi con người[12]. Họ cho rằng chủ nghĩa tầng lớp quốc tế sẽ xóa bỏ sự chiến đấu quyền lực trong chính trị quốc tế và đem lại hòa bình vĩnh viễn. Từ khi các cuộc chiến tranh của Napoleon chấm dứt, càng có nhiều nhóm ở thế giới phương Tây tin rằng cuộc chiến giành quyền lực trên trường quốc tế chỉ là một hiện tượng tạm, một sự cố lịch sử vốn kiên cố sẽ biến mất một khi những điều kiện lịch sử đặc biệt tạo nên chúng bị xóa bỏ.
[10] Xem phần VIII [11] Để biết những bàn cãi hữu dụng về vấn đề này, xem Malcom Sharp “Aggression: A study of Values and Law”, Ethics, Vol.
”[9] Dù chúng ta còn nhiều chuyện phải bàn đến sau này về những lý thuyết này cũng như những kì vọng mà chúng mang lại,[10] không quá để cho rằng sự tranh giành quyền lực rất phổ quát cả về không gian và thời gian và là một sự thật chẳng thể chối cãi. Cuối cùng, quờ đời sống chính trị của một nhà nước, đặc biệt là đối với những quốc gia dân chủ, từ cấp độ địa phương cho tới cấp độ quốc gia, là một sự tranh giành quyền lực liên tiếp.
Các nhà độc tài nhìn một cách không mấy thiện cảm đối với sự khát khao quyền lực chính trị của những công dân nước mình, nhưng các nền dân chủ lại coi việc tham dự tích cực vào việc cạnh tranh quyền lực chính trị là một trách nhiệm công dân. Ý kiến này có thể bị phê phán trên cơ sở rằng những kết luận rút ra từ quá vãng là không thuyết phục và rằng việc đưa ra những kết luận như vậy luôn là chiêu thức của những kẻ chống lại sự tiến bộ và cách tân.
Beales, A Short History of English Liberalism, p. Kinh tế, mà còn vì sự ảnh hưởng đối với đối thủ và với các cá nhân chủ nghĩa và nhóm người khác, hay nói cách khác là quyền lực.
Ở cấp độ gia đình, thực chất của mâu thuẫn tiêu biểu giữa mẹ chồng/vợ và con dâu/rể nằm trong việc tranh giành quyền lực, sự bảo vệ một vị trí quyền lực đã được xác lập đối với thế hình thành một vị trí quyền lực mới. [12] Các nhà động vật học chỉ ra rằng ham muốn áp đảo đồng loại được cho là có cả trong giới động vật, như là gà hoặc khỉ, những giống loài tạo ra sự phân cấp từng lớp dựa trên nền tảng của ý chí và khả năng thống trị đồng loại.
Vì thế Cordell Hull, lúc đó là Ngoại trưởng, đã tuyên bố vào năm 1943 khi trở về từ Hội nghị Matxcơva, sự kiện đặt nền tảng cho Liên Hợp Quốc, rằng tổ chức quốc tế mới này đồng nghĩa với việc kết thúc chính trị cường quyền và mở ra một thời đại mới của cộng tác quốc tế.
Sự suy giảm của quyền lực chính trị Khát vọng quyền lực trở nên một nhân tố đặc trưng của chính trị quốc tế, vì trong mọi hình thái chính trị, chính trị quốc tế cấp thiết phải là thứ chính trị quyền lực. [4] Những người ủng hộ thương nghiệp tự do, như Cobden[5] và Proudhon[6], đã bị thuyết phục rằng việc dỡ bỏ các rào cản thương nghiệp là điều kiện độc nhất để xác lập sự hòa hợp vĩnh cửu giữa các nhà nước và thậm chí còn có thể dẫn đến sự biến mất hoàn toàn của chính trị quốc tế.
Trong thời gian gần đây, niềm tin rằng sự tranh giành quyền lực có thể bị xóa bỏ khỏi chính trường quốc tế đã được kết hợp với các cố to lớn trong việc tổ chức lại thế giới, như là Hội Quốc Liên và Liên Hợp Quốc.
Khi tồn tại một cách thức tổ chức các hoạt động kinh tế theo hình thức độc quyền thì sẽ không có sự cạnh tranh để giành quyền lực kinh tế; và trong các hệ thống kinh tế cạnh tranh, những biểu hiện nhất mực của việc giành giật quyền lực kinh tế bị đặt ngoài vòng luật pháp, trong khi một số khác lại được khuyến khích.
[8] Philip Noel-Baker, khi đó là Quốc vụ khanh Anh, vào năm 1946 đã tuyên bố trước Hạ viện rằng chính phủ Anh đã “quyết tâm dùng các thể chế của liên hiệp Quốc để xóa bỏ chính trị cường quyền, để phê duyệt thiết chế dân chủ giúp cho ý chí người dân sẽ có vị trí thống lĩnh. 195 [8] New York Times, November 19, 1943, p,I.
[6] “Chúng ta hãy xóa bỏ hàng rào quan thuế, và liên minh giữa mọi dân tộc thành ra sẽ được thiết lập, sự đoàn kết của họ được xác nhận, và sự đồng đẳng được tuyên bố ra đời.
Xem Speeches by Richard Cobden (London, The Macmillan Company,1870), I, 79: Political Writings (New York: D Appleton and Company, 1867), II, 110; Thư đề ngày 12/4/1842 gửi Henry Ashworth, được trích trong John Morley, Life of Richard Cobden (Boston: Roberts Brothers, 1881), p. Chính trị trong nước và quốc tế đều là những sự tranh giành quyền lực, chỉ khác nhau bởi những điều kiện mà tại đó sự giành giật diễn ra –bối cảnh trong nước hay không gian quốc tế.
Tuy nhiên, cảnh huống lại trở thành dị biệt khi chúng ta không phải đang xem xét các thể chế và dàn xếp xã hội tạo ra bởi con người, mà coi xét những nguyên tố tâm sinh lý mà thông qua đó dần dần tầng lớp được tạo nên.
Cho nên, mối quan hệ này có thể dự đoán về xung đột trên trường quốc tế giữa chính sách của cường quốc đang áp đảo nguyên trạng và đế quốc đang trỗi dậy.
4, Part II (July 1947). Quy trình mà các quyết định lập pháp, xét xử, điều hành và hành chính được đưa ra đều chịu tác động bởi các áp lực và phản sức ép của các “nhóm ích lợi” – vốn cụ bảo vệ và gia tăng vị thế quyền lực của họ.
Dù rằng các nhà nhân chủng học chỉ ra rằng một số tộc người nguyên thủy nhất mực chừng như không bị ham muốn quyền lực chi phối, chưa ai từng cho thấy cách thức tái tạo lại tình trạng tư duy cũng như các điều kiện sống của họ trên một khuôn khổ toàn cầu mà qua đó có thể xóa bỏ được sự giành giật quyền lực khỏi đời sống quốc tế. Sức mạnh tương đối của các thèm khát đó phụ thuộc vào các điều kiện tầng lớp – những thứ có thể ăn nhập với một khát khao nào đó nhưng có xu hướng kìm hãm những khát khao khác, hoặc là những thứ có thể cản ngăn sự chấp nhận của tầng lớp đối với những thể hiện nhất quyết của những khao khát này, trong khi lại khuyến khích những cái khác.
Nếu sự khát khao quyền lực không thể bị xóa bỏ trên toàn thế giới, những người thoát khỏi chúng có thể sẽ trở nên nạn nhân đối với quyền lực của những người khác.
W. Trong môn phái tư tưởng tự do này, Woodrow Wilson chính là chính trị gia có tài hùng biện và có sức ảnh hưởng nhất. “Ở một số cuộc bầu cử trong ngày mai”, Cobden nói, “chúng ta có thể dễ dàng thấy bài rà soát “không còn chính trị quốc tế” sẽ được vận dụng với những người đề nghị được trở thành đại diện cho các nhóm cử tri tự do”[7].
”; “Thương nghiệp tự do là luật quốc tế của Đấng Vạn Năng”, và thương mại tự do và hòa bình được xem như là “một và cùng một nguyên nhân”. Dù rằng sự thực là một số thể chế và dàn xếp xã hội đã luôn tồn tại trong quá vãng, nhưng không khăng khăng có tức là chúng sẽ đấu tồn tại trong mai sau.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét